Phụ nữ Trung Quốc nên cảnh giác khi sinh mổ bằng phẫu thuật C-section

A A A

Một phụ nữ mang thai đứng trước lối vào Bộ Nhập cư Hồng Kông, ngày 29 tháng 6 năm 2007. (M.N. Chan/Getty Images)

Tại Trung Quốc, tỷ lệ mổ lấy thai (sinh con bằng phẫu thuật C-section) đang ngày càng gia tăng trong cả nước. Tình trạng này đã đạt đến mức tỉ lệ của một trận dịch, và một số hậu quả nghiêm trọng của nó đã khiến cho phụ nữ Trung Quốc phải suy nghĩ cẩn thận trước khi yêu cầu tiến hành thủ tục này. Hiện nay, Trung Quốc là một trong những quốc gia có tỷ lệ sinh con bằng phẫu thuật C-section cao nhất trên thế giới, ước tính đạt mức 46% trong năm 2007.

Có một số trường hợp đã sử dụng kỹ thuật này trong lịch sử cổ đại. Lỗ Trung – hậu duệ đời thứ 6 của Hoàng Đế – có 6 người con trai, và tất cả đều được sinh ra theo phương pháp “cắt mở cơ thể”. Riêng Quý Liên – người con trai thứ 6, đã sáng lập nhà Mị cai trị nước Sở.

Vì có quan điểm cho rằng phụ nữ có quyền đưa ra quyết định liên quan đến cơ thể và sức khỏe của mình, nên điều này đã khiến nhiều người trong số họ thực hiện một sự lựa chọn về phương pháp sinh con. Và trên khắp thế giới, ngày càng có nhiều phụ nữ yêu cầu được sinh con bằng phẫu thuật C-section.

Tổ chức Y tế Thế giới cảnh báo rằng mổ lấy thai sẽ gây nhiều nguy cơ ảnh hưởng đến sức khỏe, vì họ không nhìn thấy được những ưu điểm của việc sinh mổ này so với cách sinh qua đường âm đạo tự nhiên.

Mổ lấy thai theo yêu cầu của sản phụ là một phong trào mà có thể đã được khởi xướng tại Brazil, một trong những quốc gia có có tỷ lệ sinh mổ cao nhất. Tuy nhiên, Tổ chức Y tế Thế giới cảnh báo rằng mổ lấy thai sẽ gây nhiều nguy cơ ảnh hưởng đến sức khỏe, vì họ không nhìn thấy được những ưu điểm của việc sinh mổ này so với cách sinh qua đường âm đạo tự nhiên.

Trong một cuộc khảo sát 9 quốc gia ở Châu Á, Tổ chức Y tế Thế giới nhận thấy rằng những trường hợp mổ lấy thai không cần thiết  thì tốn kém hơn rất nhiều so với các ca sinh nở tự nhiên, và làm gia tăng nguy cơ gây những biến chứng cho người mẹ. Nhiều chuyên gia vẫn nhấn mạnh rằng sinh nở tự nhiên là một cách lý tưởng hơn. “Sự an toàn tương đối của ca phẫu thuật làm cho người ta nghĩ rằng nó an toàn giống như việc sinh thường qua đường âm đạo tự nhiên”, Tiến sĩ A. Metin Gülmezoglu – đồng tác giả của tài liệu công bố về việc khảo sát tại Châu Á cho biết. Ông nói thêm: “nhưng trường hợp này thì hoàn toàn không giống như vậy”.

Vào năm 2007 – 2008, Tổ chức Y tế Thế giới đã theo dõi gần 100.000 ca sinh nở tại khu vực Châu Á, và đã phát hiện có khoảng 27% ca sinh nở đã được thực hiện bằng cách mổ lấy thai. Dường như việc này đã được thúc đẩy từ các yêu cầu của những bà mẹ, cũng như việc các bệnh viện sẽ thu viện phí được nhiều hơn. Kết quả cao hơn một chút cũng được Tổ chức Y tế Thế giới công bố trong một nghiên cứu tiến hành năm 2005 tại khu vực Mỹ Latin, cho thấy 35% số lượng được khảo sát nằm trong trường hợp mổ lấy thai theo yêu cầu của sản phụ. Riêng tại Châu Âu, có sự khác biệt rất lớn giữa các quốc gia: trong khi tại Ý, tỷ lệ mổ lấy thai khoảng 40%, thì các nước Bắc Âu chỉ có 14%.

Có nhiều lý do tại sao phụ nữ ở Châu Á thích sinh con bằng phẫu thuật C-section. Vì họ sợ đau đẻ khi sinh theo kiểu bình thường, hay lo lắng rằng âm đạo của họ có thể bị kéo dài hoặc bị hư hỏng bởi quá trình chuyển dạ. Tuy nhiên, những người khác lại tin rằng thủ tục này an toàn hơn cho các bà mẹ. Ngoài ra, một số phụ nữ chọn sinh con bằng cách mổ lấy thai vì nghe theo lời ​​thầy bói phán rằng họ phải sinh con đúng ngày “may mắn” hoặc sanh theo lá số tử vi.

Nhiều chuyên gia tại khu vực Mỹ Latin đã cảnh báo về việc lạm dụng phẫu thuật C-section, đặc biệt là ở các quốc gia như Brazil, nơi đã đạt đến mức cực kỳ cao. Thậm chí, có rất nhiều bà mẹ tương lai ở Mỹ Latin đã lên lịch mổ lấy thai để tránh sinh con trong những ngày lễ đặc biệt. Ngay cả trong một số trường hợp khác, việc mổ lấy thai cũng giúp cho họ có thể sắp xếp thời gian tham dự một số tổ chức đảng phái chính trị.

Việc thu viện phí được nhiều hơn tại các bệnh viện cũng có thể là nguyên nhân gây ra sự lạm dụng phẫu thuật C-section. Ví dụ, ở các thành phố lớn của Trung Quốc, chi phí của ca sinh con bằng phẫu thuật C-section có thể tăng gấp đôi so với chi phí của một ca sinh bình thường. Theo nghiên cứu của Tổ chức Y tế Thế giới, 62% các bệnh viện ở Châu Á khi được khảo sát đều cho biết rằng họ có nhiều lợi ích về mặt tài chính hơn trong việc thực hiện phẫu thuật C-section.

Tại Trung Quốc, tình trạng lạm dụng sinh con bằng phẫu thuật C-section có thể dẫn đến một số vấn đề cụ thể liên quan đến các hệ thống chăm sóc sức khỏe. Ví dụ, họ có thể bị áp lực khi đối diện với số lượng giường bệnh bị quá tải, bị tác động của chất gây mê, phòng mổ, phòng xét nghiệm và các cơ sở truyền máu, gây thiệt hại nghiêm trọng hơn, tất cả những điều này đều đáng được quan tâm. Ngoài ra, một nghiên cứu được công bố trên tờ Obstetrics and Gynecology cho thấy rằng, những phụ nữ đã trải qua nhiều lần sinh con bằng phẫu thuật C-section thì trong những lần có thai sau này, có nhiều khả năng sẽ gặp nhiều vấn đề hơn.

Theo một số chuyên gia, sự ra đời của chính sách một con vào năm 1979 có thể đã góp phần gián tiếp đến sự gia tăng sử dụng hình thức phẫu thuật mổ lấy thai. Họ cho rằng nếu sinh con bằng phẫu thuật C-section thì số lần phẫu thuật tối đa cho phép sẽ ít hơn, các bậc cha mẹ chỉ được phép có một đứa con duy nhất sẽ lựa chọn và tin tưởng vào những gì mà họ cho rằng đây sẽ là lựa chọn an toàn nhất. Tuy nhiên, rất ít người biết về sự an toàn của phẫu thuật C-section ở Trung Quốc, bất chấp thực tế rằng thông tin về những trường hợp như vậy thì rất là cần thiết.

Hiện nay, ở Trung Quốc rất cần những nghiên cứu về những lý do mà phụ nữ chọn sinh con bằng phẫu thuật C-section và cũng rất cần một phân tích về hậu quả của chúng đối với sức khỏe của người mẹ và thai nhi. Đồng thời, thúc đẩy các mô hình nữ hộ sinh chăm sóc sản phụ nhằm nhấn mạnh rằng việc sinh bình thường là nên được khuyến khích.

Bác sĩ, Tiến sĩ César Chelala là một chuyên gia tư vấn sức khỏe cộng đồng toàn cầu cho Liên Hợp Quốc và một số cơ quan quốc tế khác. Ông đã thực hiện nhiều nhiệm vụ liên quan đến sức khỏe tại 50 quốc gia trên toàn thế giới. Ông sống tại New York và viết rất nhiều các vấn đề liên quan đến nhân quyền và chính sách đối ngoại, và là người được trao giải thưởng của Overseas Press Club of America, nhận giải thưởng từ ADEPA – tổ chức nhà nước về phát triển nền sản xuất tự động hoá, và giải thưởng từ Chaski, và gần đây đã nhận được Huy chương vàng Cedar of Lebanon. Ông cũng là tác giả của nhiều ấn phẩm chính thức của Liên Hợp Quốc về các vấn đề sức khỏe, bao gồm cả cuốn sách “Sức khỏe của sản phụ: Sự thách thức dài lâu” (Maternal Health: The Perennial Challenge).

Chia sẻ bài viết này
Share:
Email
Print

Gửi bình luận