Lý Bạch, ánh trăng nghìn năm toả sáng bầu trời thi ca (P.8): Người đi buồn áng mây xa, cố nhân lẻ bóng chiều tà hoàng hôn

A A A

Lời toà soạn: Lịch sử 5.000 năm văn minh, văn hoá của Á Đông là cả một kho tàng vô giá cho hậu thế. Tuy nhiên, do ảnh hưởng của những quan niệm mới có phần thiên kiến, lệch lạc, lịch sử ấy đã bị cải biên và nguỵ tạo nhiều. Với mong muốn phục hưng lại nền văn minh vĩ đại cũng như những truyền thống đạo đức quý báu, chúng tôi tiến hành loạt bài về lịch sử Á Đông gửi đến quý độc giả, ngõ hầu phá giải được những quan niệm sai lệch hiện nay.

  • Chuyên đề “Nhân vật anh hùng thiên cổ”

Lý Bạch (701 – 762), tự Thái Bạch, được đánh giá là một trong những ngôi sao chói lọi nhất của thi ca thời Đường. Ông được người đời sau tôn kính gọi là “Thi Tiên”, đã làm hàng ngàn bài thơ. Thơ Lý Bạch thấm đẫm phong cách lãng mạn, trữ tình, phong thái siêu trần, thoát tục, từ hàng ngàn năm qua đã in sâu vào lòng độc giả Á Đông. Loạt bài về Lý Bạch sẽ giúp bạn có được cái nhìn toàn diện nhất về thi nhân vĩ đại này.

Xem thêm: Phần 1, Phần 2, Phần 3, Phần 4, Phần 5, Phần 6, Phần 7

Ngoài những bài thơ tuyệt tác, rung động lòng người, Lý Bạch còn có một số tác phẩm từ (từ là dạng thơ biến điệu, gieo vần và kết cấu thoải mái hơn thơ luật, mang âm hưởng nhạc). “Tôn tiền tập” có chép 12 bài, “Hoa am tuyệt diệu từ tuyển” có chép 7 bài. Trong đó, các bài “Thanh bình điệu”, “Vân tưởng y thường hoa tưởng dung” lúc đó được nhạc sư Lê Viên phối nhạc diễn xướng.

Tản văn của Lý Bạch, ngày nay còn lại hơn 60 bài. Đa phần là câu đối ngẫu, nhưng ngôn từ tự nhiên, rất trôi chảy, so với phong cách thơ ca của ông cũng có chỗ tương đồng. Trong đó, hai bài tản văn “Dữ Hàn Kinh Châu thư” (Thư gửi ông Hàn ở Kinh Châu), “Xuân dạ yến tòng đệ đào hoa viên tự” (Lời tựa dạ tiệc đêm xuân theo em đến vườn hoa đào), được người đời sau lựa chọn, truyền tụng rộng rãi.

Đồng thời, Lý Bạch viết rất nhiều thơ về sơn thủy, ý thơ mĩ diệu, tươi đẹp. Có những câu thơ nổi tiếng như trong bài “Tầm Dương tống đệ Xương Cự Bà Dương Tư Mã tác”:

Nhân thừa hải thượng nguyệt

Phàm lạc hồ trung thiên

Dịch thơ:

Người cưỡi trăng trên biển

Giữa trời nước buồm rơi

Hay bài “Nguyệt dạ giang hành Thôi viên ngoại Tông Chi”:

Nguyệt tùy bích sơn chuyển

Thủy hợp thanh sơn lưu

Yểu như tinh hà thượng

Đãn giác vân lâm u

Dịch thơ:

Trăng theo non xanh chuyển

Nước cùng núi biếc trôi

Mênh mông Ngân Hà thẳm

Vắng lặng rừng mây xa

Hoặc như bài “Kim Lăng thành tây lâu nguyệt hạ ngâm”:

Kim Lăng dạ tịch lương phong phát

Độc thướng tây lâu vọng Ngô Việt

Bạch vân ánh thủy dao không thành

Bạch lộ thùy châu trích thu nguyệt

Dịch thơ:

Kim Lăng đêm vắng cơn gió lạnh

Lặng bước lầu tây ngắm Việt Ngô

Mây soi bóng nước rung thành vắng

Sương trắng hạt châu ướt trăng thu

Bức tranh “Dạ tiệc mùa xuân trong vườn đào, mận”, lấy đề tài từ bài “Lời tựa dạ tiệc đêm xuân theo em đến vườn hoa đào” của Lý Bạch (còn có tên khác là “Lời tựa dạ tiệc mùa xuân trong vườn đào mận”), do Lãnh Mai đời Thanh vẽ, lưu giữ ở Bảo tàng Cố Cung Đài Bắc. Ảnh en.wikipedia.org

Lý Bạch làm rất nhiều thơ tiễn bạn. Một trong những bài nổi tiếng nhất, được nhiều người biết đến là: “Hoàng Hạc lâu tống Mạnh Hạo Nhiên chi Quảng Lăng” (Ở lầu Hoàng Hạc tiễn Mạnh Hạo Nhiên đi Quảng Lăng). Trong đó có những câu như: “Cô phàm viễn ảnh bích không tận. Duy kiến Trường Giang thiên tế lưu” (Cánh buồm lẻ loi màu xanh xa dần mất hút. Chỉ thấy dòng Trường Giang nước chảy bên trời). Lý Bạch còn viết một bài tiễn bạn khác tên là: “Tống hữu nhân” cũng rất đặc sắc:

Thanh sơn hoành bắc quách

Bạch thủy nhiễu đông thành

Thử địa nhất vi biệt

Cô bồng vạn lý chinh

Phù vân du tử ý

Lạc nhật cố nhân tình

Huy thủ tự tư khứ

Tiêu tiêu ban mã minh

Dịch thơ:

Núi xanh ngang lũy bắc

Sông trắng quanh thành đông

Nơi đây ta tiễn biệt

Buồm đơn vạn dặm trông

Lãng tử phù vân ý

Hoàng hôn tình cố nhân

Vẫy tay chào li biệt

Vang rền tiếng ngựa phi

Lãng tử ra đi, cánh buồm đơn độc vạn dặm trường như đám phù vân phiêu dạt vô định. Cố nhân tiễn biệt như lưu luyến ánh hoàng hôn, tình cảnh giao hòa, đọc thơ như thấy tâm ở trong cảnh vậy.

Lý Bạch đến thăm Cô Tô, nơi năm xưa Ngô Vương Phù Sai và mỹ nhân Tây Thi ngày đêm vui thú uống rượu hát ca, bỗng chạnh lòng nhớ xưa, viết một bài vịnh sử thi “Ô thê khúc”. “Ô thê khúc” là nhạc phủ, tên cũ là “Thanh thương khúc từ – Tây khúc ca”. “Đường Tống thi thuần” bình luận bài thơ này của Lý Bạch như sau: “Cái ý vui quá hóa buồn được tả khéo léo, chẳng mấy chốc đã hiện ra cảnh Cô Tô thê lương. Tất cả đã nói hết ra, có thể nói là gửi ý tứ sâu xa vào vẻ vui thú. Riêng câu cuối, tuyệt diệu vô cùng”. Hạ Tri Chương ca ngợi, khen rằng “có thể làm quỷ thần khóc”.

Cô Tô đài thượng ô thê thì

Ngô Vương cung lý túy Tây Thi

Ngô ca Sở vũ hoan vị tất

Thanh sơn dục hàm bán biên nhật

Ngân tiễn kim hồ lậu thủy đa

Khởi khán thu nguyệt trụy giang ba

Đông phương tiệm cao nại lạc hà

Dịch thơ:

Cô Tô quạ đến đậu trên đài

Vua Ngô ngây ngất Tây Thi say

Múa ca Ngô Sở vui chửa dứt

Núi xanh đã khuất nửa mặt trời

Bình vàng tên bạc nước chơi vơi

Nhìn vầng trăng rụng sóng xa vời

Hừng đông trời rạng dở cuộc chơi

Giống như Lý Bạch, Hạ Tri Chương cũng là người tu Đạo. “Nguyên hóa ký” viết: Hạ Tri Chương có nhà ở phường Nghi Bình, Tây Kinh. Đối diện có một cánh cổng nhỏ, thường thấy một cụ già cưỡi lừa ra vào cổng đó. Qua 5, 6 năm, thấy nhan sắc, y phục cụ già vẫn như cũ, mà cũng không thấy gia quyến. Hỏi người trong ngõ, đều nói là ông Vương bán tiền ở chợ Tây, không làm nghề gì khác nữa.

Thấy ông cụ phi phàm, nên thường ngày rảnh rỗi sang thăm. Cụ già tiếp đón rất cung kính, chỉ có một đồng tử sai bảo. Hạ Tri Chương hỏi nghề cụ. Cụ già trả lời tùy ý. Do có qua lại, nên dần dần kính lễ hơn, trò chuyện cũng dần thân mật, bèn nói chuyện về thuật hoàng bạch (thuật luyện đan – ND).

Hạ Tri Chương rất tin tưởng và coi trọng, mong muốn được chỉ bảo. Sau này cùng với phu nhân cầm viên ngọc minh châu, nói là cất giữ đã nhiều năm, xin dâng tặng cụ già, cầu xin cụ thuyết giảng đạo pháp. Cụ già đưa viên minh châu cho đồng tử, bảo đi chợ mua bánh về. Đồng tử đem viên minh châu đổi được hơn 30 cái bánh, rồi mời Hạ Tri Chương.

Hạ Tri Chương thầm nghĩ, viên minh châu quý giá mà không biết sử dụng, trong lòng rất không vui. Cụ già nói: “Đạo có thể đắc được bằng tâm, sao có thể dùng sức mà tranh được. Keo kiệt tiếc rẻ chưa dứt, thuật không thể thành được. Nên đến thâm sơn cùng cốc, cần mẫn cầu tìm đến với đạo, nơi phố xá chẳng phải nơi truyền thụ”. Hạ Tri Chương ngộ ra, cảm tạ cáo lui. Mấy ngày sau, không thấy nơi cụ già ở đâu nữa. Hạ Tri Chương vì vậy xin từ quan, theo đạo về quê.

Sau khi được thần tiên lão Vương điểm ngộ, năm Thiên Bảo thứ 3 (năm 744), Hạ Tri Chương dâng sớ xin được làm tu sĩ, về quê, lấy nhà làm đạo quán. Huyền Tông đồng ý và bổ nhiệm con trai ông Điển thiết lang Tăng Tử Vi làm Triều tán đại phu, Tư mã quận Cối Kê, rồi lệnh nuôi dưỡng, đồng thời lệnh cho Thái tử trở xuống đến khắp bá quan văn võ trong triều đều tề tựu tiễn biệt, nghi lễ long trọng.

Trong nghi lễ tiễn biệt, Lý Bạch viết bài thơ “Tống Hạ tân khách quy Việt”, trong thơ ông ví Hạ Tri Chương với Vương Hy Chi:

Kính Hồ lưu thủy dạng thanh ba

Cuồng khách quy chu dật hứng đa

Sơn Âm đạo sỹ như tương kiến

Ưng tả “Hoàng đình” hoán bạch nga

Dịch thơ:

Kính Hồ nước chảy gợn sóng xanh

Cuồng khách dật hứng biệt ly hành

Sơn Âm đạo sỹ ông về gặp

“Hoàng đình” đổi ngỗng chữ vang danh

Đại thư pháp gia đời Tấn Vương Hy Chi ghi chép Lan Đình thịnh hội là ở Sơn Âm, quê hương của Hạ Tri Chương. Mà Hạ Tri Chương bản thân cũng là thư pháp gia nổi tiếng. Theo “Thái bình ngự lãm” quyển 238 có chép, Vương Hy Chi rất yêu thích ngỗng trắng. Sơn Âm có vị đạo sỹ biết vậy, bèn thỉnh ông viết kinh điển Đạo giáo “Hoàng đình kinh”, đồng thời đem đàn ngỗng trắng mà đạo sĩ nuôi để báo đáp. Do đó Thi tiên nói, lần này Hạ Tri Chương hồi hương, e là sẽ có đạo sĩ tìm đến xin chữ. Năm xưa Vương Hy Chi viết “Hoàng đình kinh” đổi ngỗng trắng, cũng chính tại núi Sơn Âm. Do đó, hai câu cuối mượn chuyện Vương Hy Chi xưa để ca ngợi thư pháp Hạ Tri Chương cao siêu tuyệt diệu.

Chân dung Hạ Tri Chương, trong “Tập tranh Tam tài”. Ảnh en.wikipedia.org

Sau khi Lý Bạch viết bài thơ này, Đường Huyền Tông cũng ngự bút viết bài thơ “Tống Hạ Tri Chương quy Tứ Minh” để tiễn biệt ông:

Bỏ vinh hoa nhập Đạo

Mượn cáo lão từ quan

Lòng luyến tiếc hiền năng

Tài sánh tâm cao thượng

Trong khắp cõi yếu nhân

Xa trần thế thanh tâm

Cửa thành đông đưa tiễn

Quần thần rầu rĩ trông

Đồng thời, Huyền Tông tự viết lời tựa rằng: “Năm Thiên Bảo thứ 3, Thái tử tân khách (chức quan – ND) Hạ Tri Chương, thấy rõ tri túc, dâng sớ quy lão, từ bỏ vinh hoa, quyết chí nhập Đạo. Trẫm xét ông ta đã cao tuổi, lấy việc treo mũ từ quan cốt để ngao du cùng tùng hạc. Ngày 5 tháng Giêng sẽ trở về Cối Kê, bèn đưa tiễn ở cửa đông thành và lệnh lục khanh, các quan thứ doãn, đại phu, dựng cổng giăng trướng để tiễn đưa vậy. Đâu chỉ đức cao thượng, còn khích lệ giúp người, chẳng khác Nhị Sơ (Sơ Quảng, Sơ Thụ), rạng ngời sử sách. Bởi vậy làm thơ đưa tiễn”.

Sau này, khi Đường Túc Tông kế vị, nghĩ về thầy của mình (Hạ Tri Chương từng là thầy của Thái tử), nên vào năm Càn Nguyên thứ nhất (năm 757) đã xuống chiếu rằng: “Đạo sĩ Hạ Tri Chương ở Thiên Thu Quán, châu Việt xưa, khí chất bình hòa, thanh đạm, tấm lòng hòa nhã, thần thái thanh cao, chí hướng nhã dật, học rộng tài cao, như mũi tên quý của Cối Kê, như ngọc quý của Côn Cương. Do đó vang danh khắp cõi, thuyết giảng ở Long Lâu, thường tĩnh lặng dưỡng nhàn, nói hài hòa mà can gián nhẹ nhàng. Lấy cớ tuổi cao mà từ bỏ quan lộc, thật là thành thực, muốn theo gương hai ông (Nhị Sơ), thỏa cái chí của Tứ Minh. Thỏa chí ban đầu, cởi bỏ triều phục, cưỡi trâu xanh trở về, mặc áo thường dân mà đi thẳng. Cung điện chẳng như xưa, người và đàn đều không còn, chỉ còn lòng nhớ xưa sâu thẳm, nên gia phong nhục lễ, để biểu thị vinh quang. Tặng Lễ bộ thượng thư”.

Hạ Tri Chương gặp được thần tiên Vương Lão, từ đó thay đổi vận mệnh, cuối cùng bỏ quan tu đạo. Sau khi Hạ Tri Chương hồi hương đã viết chùm thơ 2 bài “Hồi hương ngẫu thư” (Thơ viết ngẫu nhiên lúc về quê) vang danh thiên hạ:

Hồi hương ngẫu thư (kỳ 1)

Thiếu tiểu ly gia lão đại hồi

Hương âm vô cải mấn mao thôi

Nhi đồng tương kiến bất tương thức

Tiếu vấn khách tòng hà xứ lai

Dịch thơ:

Từ nhỏ ra đi già hồi hương

Giọng quê không đổi tóc pha sương

Trẻ con trông thấy mà không biết

Cười hỏi cụ già khách qua đường?

Hồi hương ngẫu thư (kỳ 2)

Ly biệt gia hương tuế nguyệt đa

Cận lai nhân sự bán tiêu ma

Duy hữu môn tiền Kính Hồ thủy

Xuân phong bất cải cựu thời ba

Dịch thơ:

Ly biệt quê hương đã bao năm

Người xưa việc cũ bán tiêu vong

Kính Hồ trước ngõ còn như cũ

Gió xuân chẳng đổi sóng ngày xưa

Người đời sau đa số đều cho rằng đây là hai bài thơ thương cảm nhưng kỳ thực ngụ ý thực sự của nó là để ngộ ra ý nghĩa nhân sinh, tích cực hướng lên. Bởi vì lúc đó Hạ Tri Chương đã được thần tiên điểm ngộ. Tuy cảm khái rằng cái duyên tìm đến với đạo của mình muộn quá nhưng rốt cuộc Hạ Tri Chương cũng đã tìm được nơi quy về của sinh mệnh. “Tiếu vấn khách tòng hà xứ lai”, một chữ “tiếu” (cười) đã biểu lộ ra niềm vui của Hạ Tri Chương sau khi đắc đạo.

Năm Thiên Bảo thứ 6 (năm 747), Lý Bạch về thăm ông già Hạ Tri Chương, nhưng ông đã rời thế gian. Thi tiên để lại 2 bài thơ, thấy rõ tình nhớ thương của bạn thơ cũng là bạn đạo.

Đối tửu ức Hạ giám nhị thủ bính tự (Hai bài thơ uống rượu nhớ Hạ giám và lời tựa)

Thái tử Tân khách Hạ Công, đã gặp tôi ở Tử Cực Cung ở Trường An, gọi tôi là “Trích tiên nhân” (Ông tiên bị giáng đày), rồi cởi Kim quy đổi rượu uống vui say. Ông mất rồi, tôi ngồi trước chén rượu, rầu rĩ dâng đầy trong tim, rồi làm thơ này.

Kỳ 1 (phần 1)

Tứ Minh hữu cuồng khách

Phong lưu Hạ Quý Chân

Trường An nhất tương kiến

Hô ngã Trích tiên nhân

Tích hiếu bôi trung vật

Phiên vi tùng hạ trần

Kim quy hoán tửu xứ

Khước ức lệ chiêm cân

Dịch thơ:

Tứ Minh có cuồng khách

Hạ Quý Chân phong lưu

Trường An ta tương kiến

Gọi tôi Trích tiên nhân

Xưa yêu chén rượu ngọt

Gốc thông chuyển bụi hồng

Nơi Kim quy đổi rượu

Nhớ ông lệ ướt khăn

Kỳ 2 (phần 2)

Cuồng khách quy Tứ Minh

Sơn Âm đạo sĩ nghênh

Sắc tứ Kính Hồ thủy

Vị quân đài chiểu vinh

Nhân vong dư cố trạch

Không hữu hà hoa sinh

Niệm thử như mộng

Thê nhiên thương ngã tình

Dịch thơ:

Cuồng khách về Tứ Minh

Sơn Âm đạo sĩ nghênh

Vua ban nước Kính Hồ

Ao đài được cùng vinh

Nhà xưa người đã mất

Sen nở tràn tự sinh

Nỗi nhớ mờ như mộng

Thê lương thương xót tình

Thơ ca Lý Bạch, “mở miệng thành chương, có thể nói, không có ý rèn giũa tinh tế mà không câu chữ nào không tinh tế tuyệt diệu” (Hồ Ứng Lân – đời Minh). Đúng như Đỗ Phủ viết: “Lý Bạch thơ vô địch, bay bổng ý phi phàm”. Lý Bạch chính là một mình trên thi đàn, không ai so sánh nổi, tươi mới xuất chúng, ý tứ mẫn tiệp.

Bì Nhật Hưu thời Vãn Đường nói về phong cách nghệ thuật thơ ca của Lý Bạch như sau: “Ngôn từ vượt ra khỏi trời đất, ý tứ vượt quá quỷ thần. Đọc thơ ca ông thì thần hồn ngao du bát cực, dò xem thơ ca ông thì tâm hồn ôm cả thiên hạ”. Lại có Trần Sư Đạo đời Bắc Tống bình luận về phong cách thơ ca của Lý Bạch rằng: “Như tấu nhạc giữa hồ Động Đình mênh mông, không thấy đầu cũng chẳng thấy cuối, không theo đường xưa lối cũ, chẳng kẻ bút nghiên nào có thể mô phỏng được”.

Bạch Cư Dị viết trong bài thơ “Lý Bạch mộ” rằng:

Bên sông Thái Thạch mộ ông đây

Bao quanh vô hạn cỏ liền mây

Mồ hoang chín suối thương xương cốt

Kinh thiên động địa áng thơ bay

Thi nhân mấy kẻ không bạc mệnh

Chìm nổi như ông chẳng có người

Đỗ Phủ trong “Ký Lý Thập Nhị Bạch nhị thập vận” viết rằng:

Năm xưa có cuồng khách

Gọi ông Trích tiên nhân

Vung bút kinh mưa gió

Thơ xong khiếp quỷ thần

Thanh danh vang khắp cõi

Một sớm bỗng trầm luân

Văn phong riêng khác lạ

Lưu truyền mãi tuyệt luân

Chỉ mấy câu thơ trên đã cho thấy danh vọng của Lý Bạch trong lòng các độc giả, nhà phê bình, bạn thơ và bạn văn lớn đến thế nào. Trong rừng thơ Đường muôn màu muôn vẻ, Lý Bạch chính là một đỉnh cao “duy ngã độc tôn”, vươn tận chín tầng trời. Ở thể loại nào, Lý Bạch cũng để lại những tuyệt tác. Nhiều câu thơ của ông được hậu thế nằm lòng, rồi trở thành châm ngôn, cách ngôn, ví như: “Trừu đao đoạn thuỷ thuỷ cánh lưu. Cử bôi tiêu sầu sầu cánh sầu” (Rút dao chặt nước nước càng chảy, nâng chén tiêu sầu sầu thêm vương) hay như: “Thiên sinh ngã tài tất hữu dụng. Thiên kim tán tận hoàn phục lai” (Trời sinh ta có tài ắt là hữu dụng, ngàn vàng tiêu sạch rồi lại có)…

Theo Đại Kỷ Nguyên Tiếng Trung

Nam Phương biên dịch

Giau.Co

    Gửi bình luận