Kẻ ngốc 36 năm giả ngây ngô, cuối cùng trở thành hoàng đế lưu danh nghìn đời

A A A

Trong lịch sử, có một “kẻ ngốc” 36 năm âm thầm lặng lẽ, chỉ nhờ một chữ “Nhẫn” mà cuối cùng đã thành tựu chính mình, trở thành bậc quân vương kiệt xuất lưu danh sử sách. Ông là ai?

Nhẫn nhịn luôn là mỹ đức cao đẹp của con người. Chữ “Nhẫn” (忍) bao gồm “Nhận” (刃 – nghĩa là lưỡi dao) ở trên và “Tâm” (心 – nghĩa là trái tim) ở dưới, cũng tức là “lưỡi dao trên trái tim”. Một con dao dựng ở trên tim, hễ cái tâm mà động thì sẽ bị lưỡi dao đâm rướm máu, nhưng bất động tâm thì lưỡi dao kia dù sắc bén đến đâu cũng không làm tổn hại được.

Ví như Việt Vương Câu Tiễn nằm gai nếm mật, cuối cùng làm nên bá nghiệp; Hàn Tín chịu nhục chui háng, cuối cùng trở thành Vương hầu; Tư Mã Ý chịu nhục chịu khổ, thành tựu đế nghiệp dòng dõi Tư Mã. Hôm nay, xin gửi đến quý độc giả một danh nhân trong lịch sử, người từng bị kẻ xấu hãm hại đẩy vào hố phân mà vẫn một lòng nhẫn chịu, cuối cùng trở thành bậc đế vương lừng lẫy một thời. Vị hoàng đế nghìn thu hiếm thấy này chính là quân vương hiền đức Lý Thầm thời nhà Đường. Hết thảy an bài này cũng thật là Thiên ý, Trời giao trọng trách cho người có tâm đại nhẫn, thật xứng danh Thiên tử (con Trời).

Đường Tuyên Tông ( 27 tháng 7, năm 810 – 7 tháng 9, năm 859), tên thật Lý Thầm là vị Hoàng đế thứ 17 của triều đại nhà Đường. Ông trị vì từ năm 846 đến năm 859, tổng 13 năm. (Ảnh: wikipedia.org)

Mẫu thân của Lý Thầm là Trịnh thị “Hiếu Minh hoàng hậu”, người đã sinh hạ hoàng tử thứ 13 Lý Thầm cho Hoàng đế Đường Hiến Tông. Trước đây từng có vị thầy tướng số xem tướng mặt của Trịnh thị và tiên đoán rằng bà sẽ sinh hạ Thiên tử cho xã tắc giang sơn. Lý Thầm thuở nhỏ cũng thường mộng thấy mình cưỡi rồng bay lên trời. Một lần Lý Thầm đem chuyện này nói với mẹ, bà Trịnh thị bèn khuyên con: “Những điều này tuyệt đối không được cho người khác hay, nếu không sẽ mang họa vào thân”.

Một đời của Trịnh thị đã trải qua nhiều trắc trở gian truân. Bà vốn là vợ lẽ của Tiết độ sứ Lý Kĩ, người từng nổi dậy chống lại triều đình. Sau khi Lý Kĩ tử trận vào năm 807, bà cùng với gia quyến phải vào cung phục vụ, bản thân bà cũng phải làm cung nữ cho Quách quý phi, chính thất của Hiến Tông. Sau đó tình cờ bà gặp Hiến Tông rồi được sủng hạnh, sinh hạ hoàng tử thứ 13 cho nhà vua. Tuy vậy, Trịnh thị vẫn luôn bị hậu cung bài xích, Lý Thầm cũng không có được tình yêu thương của vua cha.

Lý Thầm lúc nhỏ thường tỏ ra nhút nhát và kiệm lời, mọi người đều cho là ông tư chất kém cỏi. Vậy nên ông thường hay bị ghẻ lạnh hắt hủi, trở thành đối tượng bị nhiều người trong hoàng thất mang ra giễu cợt sau bữa cơm trà. Lý Thầm trở nên im lặng ít nói, tính cách hay âm thầm sầu não. Ông càng như vậy, những hoàng thân quốc thích lại càng thừa thế lấn át. Về sau, ai cũng cho rằng ông là kẻ kém trí, là hạng “gỗ mục không thể điêu khắc được”.

Trải qua các thời Đường Kính Tông và Đường Văn Tông, triều đình đa sự, Lý Thầm cố gắng trốn tránh không tham gia vào việc triều chính, và cũng rất hạn chế mở miệng. Văn Tông thường đến nơi ở của ông tại Thập lục trạch, tìm cách dụ ông nói chuyện, xem như đó là trò vui, Văn Tông cũng gọi ông là Quang thúc. Sau khi lên ngôi, Đường Vũ Tông, vốn là một người vô lễ và không biết tôn ti, lại càng tỏ ra xem thường và thiếu tôn trọng đối với Quang vương Lý Thầm.

Đường Vũ Tông nhìn thấy Lý Thầm bị mọi người giễu cợt, thậm chí làm cho nhục nhã, nhưng vẫn không hề lên tiếng bênh vực chút nào. Vũ Tông cho rằng Lý Thầm vốn không phải người đần độn, mà có tính nhẫn nhục phi thường. Nhưng cũng bởi Lý Thầm có vai vế khá cao, nên Vũ Tông cảm thấy có phần bất an trong lòng. Thế là, Đường Vũ Tông tìm đủ mọi cách thăm dò nội tình, muốn xem Lý Thầm là giả ngây giả ngốc, hay thật sự là đần độn ngu si?

Trong những ngày tháng sau này, Đường Vũ Tông thường bày trò chơi khăm Lý Thầm. Ông cho rằng như vậy có thể lật tẩy kẻ giả ngốc giả ngây kia. Nhưng Lý Thầm vẫn không hề tỏ ra phản ứng khiến Vũ Tông bối rối, cuối cùng Vũ Tông buộc phải giở ra thủ đoạn hiểm độc nhất: Ông lệnh cho thân tín tìm cớ rồi cõng Lý Thầm đến nhà xí, đẩy ông ta xuống hố phân. Ông cho rằng nếu như Lý Thầm không chết, thì dù có sống cũng chẳng còn mặt mũi nào nhìn mặt mọi người nữa. May mắn Lý Thầm được một viên thái giám tên Thù Công Vũ đi ngang qua, trong tâm động lòng thương xót, đã kéo ông ra khỏi hố phân, nếu không dù không bị ngập chết, thì cũng bị đói chết. Thù Công Vũ còn giúp Lý Thầm trốn thoát khỏi nơi thị phi này.

Tục ngữ có câu: “Đại nạn không chết, tất có hậu phúc”. Lý Thầm cả đời nhẫn nhịn, âm thầm chịu khổ, về sau quả nhiên đã thành tựu nghiệp lớn, trở thành bậc quân vương mẫu mực của triều đại nhà Đường.

Lý Thầm cả đời nhẫn nhịn, âm thầm chịu khổ, về sau quả nhiên đã thành tựu nghiệp lớn, trở thành bậc quân vương mẫu mực của triều đại nhà Đường. (Ảnh: pinterest.com)

Sinh thời, Đường Vũ Tông ra sức đàn áp tôn giáo, đặc biệt là đạo Phật, gây nên một vụ trấn áp lớn mà Phật giáo gọi là “Hội Xương diệt Pháp”. Đến cuối năm 845, Đường Vũ Tông lâm bệnh nặng khi mới 30 tuổi và sang năm 846 thì qua đời. Người đời sau cho rằng Đường Vũ Tông sớm băng hà là do quả báo của tội diệt Phật và báng bổ Phật Pháp mà nên. Bấy giờ, hoạn quan khuynh đảo triều đình, muốn nhân lúc rối ren mà lập người ngu dốt lên ngôi để dễ bề thao túng, cuối cùng đã quyết định chọn “kẻ ngốc” Lý Thầm. Bọn hoạn quan làm giả chiếu chỉ của Vũ Tông, viết: “Hoàng tử nhỏ tuổi, chưa đủ hiền đức để trị quốc. Quang vương Di có thể lập làm Hoàng thái thúc, đổi tên là Thầm, đảm đương quân quốc chánh sự”.

Thái thúc được đón từ Thập lục trạch vào cung, đổi tên là Lý Thầm. Khi được bách quan tiếp kiến, Lý Thầm như trở thành con người khác, tỏ ra thông minh nhân trí hơn người, quyết đoán chính vụ nhanh gọn, người người nể phục. Ngày 25 tháng 4 (năm Đinh Mão), Thái thúc tức vị, sử xưng là Đường Tuyên Tông. Mẹ ông Trịnh thị nhờ vậy mà một bước trở thành Hoàng Thái hậu, hoàn toàn ứng nghiệm với lời tiên đoán “sinh hạ Thiên tử” của vị thầy tướng số năm xưa.

Sau khi Đường Tuyên Tông kế vị, ông đã thi triển tài năng trị quốc của mình. Mọi người dần dần nhận thấy Lý Thầm là một bậc kỳ tài trị quốc hiếm có, thuận theo chuyển dời của thời gian mà nhận được sự tôn kính của mọi người. Ông đã bãi bỏ chính sách diệt Phật của Vũ Tông, chấm dứt bức hại, kết thúc Pháp nạn của Phật giáo. Về phương diện trị quốc, ông cũng thực hành chống tham nhũng, trừng trị tham quan, khiêm tốn tiếp nhận lời can gián, biết nghe theo lời phải, thu phục các vùng đất bị Thổ Phiên chiếm đóng sau loạn An Sử, đã làm ra rất nhiều việc tốt cho nước cho dân, triều đình và dân gian hết lòng khen ngợi. Tư Mã Quang trong “Tự Trị Thông Giám” cũng không tiếc lời ca ngợi, nói người dân cuối triều Đường đều khen ông là “Tiểu Thái Tông”. Thân mẫu của ông là Trịnh thị, trong lịch sử cũng nhận được vinh hiển đáng nên có, sau khi qua đời được ban tặng thụy hiệu là “Hiếu Minh Hoàng hậu”.

Nếu như Đường Thái Tông có Ngụy Trưng không sợ chết dám nói lời can gián, thì Đường Tuyên Tông Lý Thầm lại có Ngụy Mô – con cháu đời thứ năm của Ngụy Trưng. Lý Thầm giỏi về tiếp nhận lời can gián của thần dân, ông còn thường xuyên đến chốn quan trường và dân gian âm thầm thị sát. Khoảng thời gian Tuyên Tông trị vì là thời kỳ hưng thịnh thứ hai của triều đại nhà Đường từ sau Đường Thái Tông, sử sách gọi là “Đại Trung chi trị”. Điều này không tách khỏi việc thực thi cần kiệm trị quốc, hết lòng quan tâm đến đời sống của muôn dân trăm họ, giảm thiểu sưu thuế, coi trọng tuyển chọn nhân tài của Tuyên Tông.

Cổ ngữ có câu: “Nhẫn một lúc sóng yên biển lặng, lùi một bước biển rộng trời cao”, câu nói ấy chẳng phải đã khắc họa chân thật cuộc đời của Lý Thầm hay sao?

Vũ Dương

Giau.Co

    Gửi bình luận