Cây Hoa Chuông: Loài cây chữa bệnh bị mang tiếng oan

A A A

(13Smile/Shutterstock)

Cây hoa chuông được dùng để làm lành vết thương trên chiến trường, và được sử dụng rộng rãi trong Thế Chiến thứ nhất để chữa trị những vết thương đã sinh dòi. (13Smile/Shutterstock)

Cây hoa chuông là loài thảo dược có tiếng lâu năm về chữa lành các vết thương, và làm liền xương bị gãy.

Nó từng được xem là một loại thuốc lành tính, và trong một số trường hợp thậm chí còn được dùng làm thức ăn. Nhưng ngày nay, nhiều nhà chức trách trên toàn thế giới đều kiên quyết cảnh báo chống chỉ định đối với cây hoa chuông.

Cây hoa chuông có lá dài sẫm màu với lông tơ thô ráp, và những khóm hoa nhỏ như những chiếc chuông được treo lơ lửng.

Tên thực vật học của cây hoa chuông là Symphytum, có nghĩa là “đoàn kết” hoặc “cùng nhau sinh trưởng”.

Ít nhất là từ năm 50 sau công nguyên, các bác sĩ đã hiểu được tác dụng của cây hoa chuông và mô tả nó như một phép màu thần kì chữa lành vết thương. Cây hoa chuông dường như có khả năng gắn kết các mô lại với nhau, và thường không để lại bất kỳ dấu vết nào của sẹo, cho dù đó là da, sụn, dây chằng, hay thậm chí là xương.

Trong suốt chiều dài lịch sử, cây hoa chuông được dùng để làm lành vết thương trên chiến trường, và được sử dụng rộng rãi trong Thế Chiến thứ nhất để chữa trị những vết thương đã sinh dòi. Nhà thảo dược học người Mỹ Samuel Thomson (1769-1843) tuyên bố rằng ông đã sử dụng cây hoa chuông để chữa bàn chân bị thương do một tai nạn gây ra bởi dụng cụ làm nông khi ông lên 9.

Một trong những tên dân gian của cây hoa chuông là cây nối xương, cái tên đã nói lên tất cả, và những nghiên cứu hiện đại cũng xác minh rằng cây hoa chuông là loại thuốc thực sự có giá trị. Những nghiên cứu kiểm soát ngẫu nhiên cho thấy sử dụng cây hoa chuông lên ngay chỗ bệnh rất hiệu quả khi điều trị vết thương, đau khớp, viêm nhiễm.

Các nhà nghiên cứu đã xác định được hợp chất có tên là allantoin, ít nhất có thể giải thích tại sao cây hoa chuông có thể chữa bệnh. Allantoin làm các tế bào sinh trưởng, tạo sự tăng trưởng cho collagen, mô liên kết và xương.

Bạn có thể hiểu được cây hoa chuông làm các tế bào trong cơ thể chúng ta sinh trưởng như thế nào bằng cách quan sát sự sinh trưởng của loài cây này. Cây hoa chuông rất sung mãn. Bạn có thể chặt chúng đến tận rễ và sau vài tuần chúng sẽ hồi phục hoàn toàn trở lại. Và kết quả là, chúng ta có thể thu hoạch từ một cây hoa chuông nhiều lần trong một năm.

Hình vẽ minh họa cây hoa chuông năm 1807. (Public Domain)

Chất độc PAs

Trong thập niên 1980, danh tiếng cứu người của cây hoa chuông đã bị hủy hoại nghiêm trọng, khi các nhà nghiên cứu tìm ra được hợp chất trong chúng có tên là pyrrolizidine alkaloids (PAs), chất này gây tổn thương gan chuột.

Người tiêu dùng hoang mang, và các nhà sản xuất thực phẩm chức năng loại bỏ loại thảo dược này ra khỏi các công thức của họ. Bước sang thiên niên kỷ mới, các nhà chức trách ở Mỹ, Canada, Châu Âu, và các nơi khác đều cấm tất cả các sản phẩm thuốc uống từ cây hoa chuông trên thị trường.

Tuy nhiên, sau khi xem xét lại các chứng cứ được sử dụng để gây nên nỗi sợ cây hoa chuông, thì dường như đây là một phản ứng thái quá. Trong khi cây hoa chuông thật sự có chứa một lượng nhỏ PAs, các nghiên cứu cho thấy rằng vấn đề này không tính tới liều lượng thực tế khi sử dụng toàn bộ cây hoa chuông.

Thay vào đó, các cuộc thử nghiệm chỉ tập trung vào những con chuột bị tiêm alkaloids đã được phân tách hoặc được cho ăn một lượng chiết xuất cực lớn từ cây hoa chuông. Trong một nghiên cứu thường xuyên được các nghiên cứu khác tham chiếu, những con chuột con đã được cho ăn một lượng cây hoa chuông tương đương gấp nhiều lần trọng lượng cơ thể chúng trước khi chúng cho thấy dấu hiệu bị tổn thương gan.

Những nghiên cứu này dẫn đến một loại suy nghĩ thông thường hiện nay, cáo buộc cây hoa chuông chỉ có thể được sử dụng ngoài da. Thậm chí sử dụng ngoài da cũng bị nghi ngờ trong một vài trường hợp vì PAs có thể được hấp thụ qua da. Ủy ban E (FDA của Đức đối với dược phẩm) chỉ xác nhận cho dùng cây hoa chuông ngay lên trên các vết thương trầy xước sơ ngoài da. Không khuyến khích sử dụng trên các vết thương hở miệng.

Nhưng một số nhà nghiên cứu cho rằng cây hoa chuông chỉ gây hại khi sử dụng thời gian dài với liều lượng cao. Họ lập luận rằng loại cây này bị áp đặt lên một tiêu chuẩn định mức mà hầu hết các loại thuốc đều sẽ có tác dụng gây hại.

Một nghiên cứu được công bố trên tạp chí Science bởi Tiến sĩ Bruce Ames đã phát hiện rằng trà từ lá cây hoa chuông ít gây ung thư hơn so với bia.

Vào năm 2001, ngay sau khi Cơ quan Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Mỹ ban hành lệnh cấm với cây hoa chuông, Tiến sĩ James Duke, nguyên Giám đốc Phòng Thí nghiệm Nghiên cứu Cây thuốc của Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ, đã phát biểu với tờ Washington Post rằng loài cây này “rất ít khả năng” gây ra những vấn đề nội khoa khi sử dụng với liều lượng thực tế.

“Loài cây này thật sự có chứa một lượng nhỏ pyrrolizidine alkaloids, và bất kì ai dùng chúng như dùng rau bina ba lần một ngày trong suốt 10 năm thì có thể có vấn đề, nhưng không ai có lý trí lại đi làm điều đó”, Duke nói.

Hình vẽ minh họa cây hoa chuông trong cuốn Cây thuốc của Kohler, 1887. (Public Domain)

Cách sử dụng an toàn

Trong khi những viên thuốc từ cây hoa chuông không còn có trên thị trường, bản thân loài cây này lại không bị kiểm soát. Chúng mọc tự do như một loài cây cảnh trong vườn nhà khắp trên đất nước, và những nhà cung cấp thảo mộc vẫn bán lá và rễ khô của cây hoa chuông với số lượng lớn, mặc cho những cảnh báo gây tổn thương gan của chúng.

Trong hơn 2000 năm qua (trước khi có nỗi sợ về chất độc PAs), cây hoa chuông được dùng làm thuốc uống khi điều trị nhiều vấn đề về sức khỏe, đặc biệt là loét, viêm phế quản mãn tính, và những vấn đề khác như màng nhầy bị tổn thương hay viêm nhiễm nặng.

Một vài nhà thảo dược học vẫn sử dụng chúng ngày nay để chữa trị hội chứng rò rỉ ruột – là một tình trạng bệnh mà những chất cần phải ở trong ruột lại bị rò rỉ vào máu. Cây hoa chuông được cho là có thể làm liền các vết thủng trong ruột.

Với những ai sẵn sàng chấp nhận rủi ro khi uống cây hoa chuông, hãy tham khảo ý kiến từ một nhà thảo dược học có trình độ, và hãy nhớ những điều sau:

Rễ cây hoa chuông chứa nhiều PAs hơn lá rất nhiều lần, và những lá lớn, trưởng thành chứa ít PAs hơn những lá nhỏ, non.

Một vài giống cây hoa chuông, như cây hoa chuông Nga (Symphytum x uplandicum), chứa mật độ PAs nhiều hơn. Loại được dùng trong y học thảo dược, cây hoa chuông dại (Symphytum officinale), có ít PAs hơn rất nhiều. Một vài công ty Châu Âu gần đây đã chế tạo ra một loại thuốc thoa từ cây hoa chuông không có PAs, nhưng không có loại thuốc uống nào được bán.

Nhiều nhà thảo dược học bây giờ kết hợp cây hoa chuông với cây kế sữa – một loại thảo dược tương tự bảo vệ gan khỏi các chất độc.

Có bốn trường hợp bị tổn thương gan trên người nghi do dùng cây hoa chuông. Một trường hợp liên quan đến một người phụ nữ có các vấn đề về gan sau khi sử dụng liều lượng cao cây hoa chuông trong 9 năm. Trong các trường hợp còn lại, có quá ít thông tin, hoặc quá nhiều những yếu tố khác có thể là nguyên nhân (ví dụ như thuốc dược phẩm) để chứng minh rằng cây hoa chuông là thủ phạm.

Những đối tượng dễ có khả năng bị thương tổn gan bởi cây hoa chuông nhất là trẻ em, phụ nữ có thai hoặc cho con bú, và những người có tiền sử bị bệnh gan từ trước.

Tuy nhiên, trong quá khứ, rễ cây hoa chuông giàu dinh dưỡng thường được dùng cho trẻ em. Theo nhà thảo dược học Peter Holmes, người Thụy Sỹ thường nướng rễ cái ngọt thành bánh, và người Nhật cũng thường ăn món Tempura có rễ cây hoa chuông. Vào thời Trung Cổ, rễ cây hoa chuông được sử dụng để tạo hương vị cho bia.

Đừng dùng cây hoa chuông với các loại thuốc gây hại cho gan. Khả năng gây hại của chất PAs sẽ tăng lên nếu có paracetamol (acetaminophen – Tylenol), một loại thuốc gây tổn thương gan nổi tiếng không thể chối cãi.

Cuối cùng, phải sử dụng khôn khéo. Đừng dùng một liều quá lớn trong thời gian dài (hơn 4 tháng). Điều đó không cần thiết. Cây hoa chuông có tác dụng nhanh chóng, và đẩy nhanh thời gian phục hồi.

Chia sẻ bài viết này
Share:

Gửi bình luận